Võ Thị Sáu - Nữ Anh Hùng Huyền Thoại Vùng Đất Đỏ


Tài nguyên thư viện

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • MƯA ĐỎ/ CHU LAI


    BẢN TIN THƯ VIỆN

    Đọc sách có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với học sinh, bởi đó là con đường ngắn nhất giúp các em tiếp cận tri thức và nuôi dưỡng ước mơ. Mỗi trang sách mở ra một thế giới mới, nơi các em có thể khám phá lịch sử, khoa học, thiên nhiên hay những câu chuyện giàu cảm xúc. Nhờ đọc sách, học sinh rèn luyện được khả năng tập trung, ghi nhớ, tư duy logic và ngôn ngữ – những kỹ năng cần thiết cho việc học tập ở trường. Không chỉ vậy, sách còn bồi đắp tình cảm, giúp các em biết yêu thương, biết sẻ chia và biết trân trọng những giá trị tốt đẹp xung quanh. Trong thời đại công nghệ với nhiều yếu tố gây xao nhãng, việc duy trì thói quen đọc sách càng giúp học sinh cân bằng tâm trí, giảm phụ thuộc vào thiết bị điện tử và tạo nên lối sống lành mạnh. Mỗi cuốn sách giống như một người thầy thầm lặng, đồng hành cùng các em trên hành trình trưởng thành, giúp mở rộng tầm nhìn và khơi dậy những tiềm năng của bản thân. Vì vậy, đọc sách không chỉ là sở thích mà còn là chìa khóa dẫn các em đến tri thức, nhân cách và tương lai tươi sáng

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z7474971018187_6e5890ba2b4f004ad9dac83a9be29567.jpg Z7474971012550_94b7880262200e1b743b0ae1bf930d27.jpg Z7474971031574_151d030b10d0bc64090bb05608bdd4d6.jpg Z7474971027608_e651140b369dfb901f61bd1e1416fbb5.jpg Z7474970998359_cea7ae3d0aa08a9f0d2ba84185821fe0.jpg Z7474971029502_a23892bc3e4e542dcca12744c6ebc619.jpg Z7474945962354_f6c4a68941771667291e508882a2e482.jpg Z7474945936340_50be177450e24f206f6621a706db8adc.jpg Z7474945973420_10d2006d55424eaaa31bc886ee1f96b1.jpg Z7474945967149_178398f5e2c0af8bb353bd160056d463.jpg Z7474945978439_3a17e1ac0f94d99d5c1260e0fcc3950a.jpg Z7474922297215_01c262e11233cdb5dc54b3e9743196d6.jpg Z7412122208065_7fd9a3cd4e879de26ef86d905ee787a9.jpg Z7412087769302_589e2e6f26471785ecd42e4076d4747e.jpg Z7327879595533_68f70ce79894e229db78bcbb53484e53.jpg Z7327879561413_436760ca35b6d8b5d1742c607548fbc6.jpg Z7327879586422_a65d49f740788a8c3c9ce08c494d5600.jpg Z7331449423218_20ab8f6222ab0ecd7e5ea7c353ce2dcb.jpg Z7332565078395_6763b9875c06660ee3d02cf4381be95c.jpg Z7332564277773_aef8b34b4566fa190f54dfb1041ba1c1.jpg

    💕💕 MỪNG ĐẢNG MỪNG XUÂN - MỪNG ĐẤT NƯỚC ĐỔ MỚI CHÀO XUÂN BÍNH NGỌ 2026💕💕

    BÁC HỒ VỚI HỌC SINH SINH VIÊN


    DANH NGÔN VỀ SÁCH

    Một cuốn sách hay trên giá sách là một người bạn, dù quay lưng lại nhưng vẫn là bạn tốt”. Vậy tại sao chúng ta lại quay lưng với người bạn tốt?Một cuốn sách hay cho ta một điều tốt, một người bạn tốt cho ta một điều hay.

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Truyện cổ Nước Nam phần chim muông

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hồng Nga
    Ngày gửi: 13h:14' 12-12-2025
    Dung lượng: 1.0 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Tên sách : TRUYỆN CỔ NƯỚC NAM (Q2)
    MUÔNG CHIM
    Tác giả : ÔN NHƯ NGUYỄN VĂN NGỌC
    Nhà xuất bản : THĂNG LONG
    Năm xuất bản : 1934
    -----------------------Nguồn sách : tusachtiengviet.com
    Đánh máy : bongmoloko, thuantran46, ThaiThaiCJ, Thuong
    Nguyen, little_lion, kd1995, huong.nguyenthu, Khongtennao,
    laithuylinh, bhp
    Kiểm tra chính tả : Phạm Bách, Trần Trung Hiếu,
    Nguyễn Thị Linh Chi, Trần Khang
    Biên tập chữ Hán – Nôm : Đỗ Văn Huy
    Biên tập ebook : Thư Võ
    Ngày hoàn thành : 30/12/2018

    Ebook này được thực hiện theo dự án phi lợi nhuận
    « SỐ HÓA 1000 QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG
    BÓNG » của diễn đàn TVE-4U.ORG
    Cảm ơn tác giả ÔN NHƯ NGUYỄN VĂN NGỌC và nhà
    xuất bản THĂNG LONG đã chia sẻ với bạn đọc những
    kiến thức quý giá.

    MỤC LỤC
    MÀO ĐẦU
    1) CON LƯƠN VÀ CON CÁ RÔ
    2) CON CÔNG VÀ CON QUẠ
    3) CON GIUN KHÔN NGOAN
    4) VOI NGỰA ĐUA NHAU
    5) CON GIÁN VÀ CON NHỆN
    6) CON CÓC LÀ CẬU ÔNG TRỜI
    7) CON GÀ, CON LỢN VÀ CON CHÓ
    8) CON CHÈO BẺO
    9) CON TÔM VÀNG
    10) TẠI SAO DƠI ĂN MUỖI
    11) CON THỎ VÀ CON CHÓ
    12) LỪA THI TÀI VỚI NGỰA
    13) TU HÚ GỌI CÔ
    14) CHÀO MÀO ĂN TRỘM ĐÀO
    15) CHÀO MÀO VÀ CÚ
    16) CON CHANH-CHANH VÀ CON CHẢ-CHẢ
    17) KHƯỚU DẠY HỌC
    18) RÙA-RÙA DẠY KHÔN
    19) CHÓ RỪNG VÀ CỌP
    20) PHÙ DU VÀ ĐOM ĐÓM
    21) HÉT ĂN GIUN
    22) KIẾN, ONG CHỌI VỚI CÓC

    23) DÊ ĐI KIẾM ĂN VỚI CỌP
    24) DIỀU VỚI GÀ
    25) CẠC CẠC KẸC KẸC
    26) LÝ TRƯỞNG DIỀU HÂU
    27) CON DƠI
    28) TRÂU NHÀ VÀ TRÂU RỪNG
    29) CON VOI VỚI CON TRÂU
    30) CHUỘT VÀ MÈO
    31) THẰN LẰN MỒNG NĂM
    32) THẰN LẰN TRỘM CHÂN
    33) CÔNG VÀ GÀ
    34) CON CÔNG VÀ LÀNG CHIM
    35) CÓC THI TÀI VỚI VOI
    36) THUỒNG LUỒNG TỊ VỚI RÙA
    37) RÙA CHƠI VỚI HẠC
    38) VÀNG ANH
    39) CUỐC KÊU TRĂNG
    40) LÀM KIẾP CON GÌ
    41) ĐEO NHẠC CHO MÈO
    42) CỌP KHÔNG SỢ DÊ
    43) CỌP CŨNG KHÔNG SỢ NGỰA
    44) TÌNH VỢ CHỒNG NGHĨA ANH EM
    45) QUẠ BẮC CẦU
    46) SÁO VÀ CÒ
    47) CON CHÓ VÀNG VÀ CON CHÓ ĐEN

    48) MỌT VÀ TÒ VÒ
    49) CHÈO BẺO VÀ ÁC LÀ
    50) TRÂU CÀY TRÂU CỘT
    51) TRÂU BÉO, TRÂU GẦY
    52) TẠI SAO CON TRÂU KHÔNG BIẾT NÓI
    53) GÀ, VỊT VÀ CHIM KHÁCH
    54) THẰN LẰN VỚI RẾT
    55) QUẠ ẤU HỌC
    56) TU HÚ VÀ CHIỀN CHIỆN
    57) TU HÚ VÀ QUẠ
    58) CON BỒ CÂU VÀ CON SÁO
    59) CHÂU CHẤU KIỆN VOI
    60) CÁ RÔ ĐI THI
    61) LÀNG CHIM KÊU LÝ TRƯỞNG
    62) LÝ TRƯỞNG KHƯỚU
    63) RÙA ĐỘI BIA
    64) CON RẮN VÀ NGƯỜI NUÔI RẮN
    65) LONG VƯƠNG VÀ CON ẾCH
    66) CON CÒ TRẮNG
    67) CHÓ BA CẲNG
    68) CỐC VÀ CÁ
    69) ĐA ĐA VÀ CÒ
    70) CÁ VỚI NGAO
    71) CHIỀN CHIỆN VÀ CHOI CHOI
    72) CHIM SẺ VÀ CHIM XANH

    73) CHÀO MÀO MUỐN LẤY CHIM XANH
    74) CHÓ PHẢI ĐÒN OAN
    75) QUẠ ĂN TRỘM NGÔ
    76) GÀ ÔNG ĐỒ VÀ GÀ ÔNG NGHÈ
    77) HAI VỢ CHỒNG CON CHIỀN CHIỆN VÀ ÔNG SƯ
    78) CÁ CHÉP HÓA RỒNG
    79) CON RẮN VỚI CON HỔ
    80) TẶC KÈ VÀ NÒNG NỌC
    81) CON NHỆN BÁO TIN
    82) CON NHỆN VÀ CON RUỒI
    83) RUỒI, NHẶNG VỚI NHỆN
    84) VOI, CỌP THI TÀI
    85) CHẪU CHÀNG CÓ CHÍ HỌC HÀNH
    86) GÀ RỪNG
    87) CHÂU CHẤU VỚI CÀO CÀO
    88) CHÂU CHẤU ĐÁ VOI
    89) CHÍCH CHÒE VÀ VÀNG ANH
    90) CON THỎ, CON CHÓ VÀ CON MÈO
    91) CON RUỒI VÀ CON RỆP
    92) CON CUA VÀ CON CÁY
    93) TU HÚ VÀ CHIM SẺ
    94) MÈO MẮC LỪA CHUỘT
    95) DIỀU VỚI CẮT VÀ QUẠ
    96) DIỀU, QUẠ TRANH NHAU
    97) KIẾN VỚI CÁ

    98) ONG VẼ
    99) CON LỢN ĂN NO LẠI NẰM
    100) CHẼO CỜ VÀ VẸT
    101) MUỖI, CHẤY VÀ ĐOM ĐÓM
    102) TRANH BAY TRƯỚC, SAU
    103) CON LE VÀ CON VỊT
    104) CON CỐC VÀ CON ÉN
    105) CON CHÓ CÓ NGHĨA
    106) CON TRÂU GHEN VỚI CON CHÓ
    107) ĐỆ NHẤT CÔNG THẦN
    108) VỊT ĐI XIN CHÂN
    109) CON CUỐC VÀ CON QUẠ
    110) GÀ MÁI GÁY
    111) GÀ MÁI VỚI GÀ CON
    112) CON CHÓ VÀ MẶT TRĂNG
    113) CÒ VÀ BỒ CÂU
    114) TRỜI CHIA CỦA
    115) CHIM CHÌA VÔI
    116) ỐC LO CHO ỐC
    117) CON MÈO
    118) KIẾN MỌC CÁNH
    119) CÓC ĐI THI
    120) CÓC BÔI VÔI
    121) CON CÓC VÀ CON CHUỘT
    122) SÁO MỎ VÀNG

    123) KY CÓP CHO CỌP NÓ ĂN
    124) TẠI SAO CỌP ĂN THỊT NGƯỜI
    125) TÔM CÁ KẾT BẠN
    126) TRÊ CÓC
    127) CỌP, HƯƠU, NHÍM VÀ SƯ TỬ
    128) CHUỘT BẠCH VÀ HAI VỢ CHỒNG CHUỘT CHÙ

    ÔN NHƯ
    NGUYỄN VĂN NGỌC

    TRUYỆN CỔ NƯỚC NAM
    In lần thứ II
    Chương trình Việt văn 1957 của B. Q. G. G. D.
    LỚP ĐỆ THẤT – ĐỆ LỤC
    TẬP II : MUÔNG CHIM
    THĂNG LONG

    MÀO ĐẦU
    Quyển này là quyển thứ hai trong bộ « Truyện cổ nước
    nam » mà chúng tôi cho xuất bản. Trong quyển này, sưu tập
    riêng những truyện về các giống « Muông chim ».
    Kể theo phương diện ý tưởng và văn thể, thì những
    truyện viết đây thay đổi nhiều lối, đại để như sau này :
    a) Những truyện do ở các câu ngạn ngữ, phong dao xuất
    sản ra, hay trái lại, những truyện mà sự thúc-kết đã đúc
    thành câu ngạn ngữ, phong-dao.
    b) Những truyện có thể coi như có tính-cách giải nghĩa về
    khoa học, nhưng khoa học cổ-lỗ bất ngoại-hồ một câu hỏi
    « Tại sao ? ».
    c) Những truyện hoang đường thuộc về thuyết « Luân
    hồi », người hóa ra vật, vật hóa người.
    d) Những truyện xưa nay tập-tục nghiệm ra cho rằng thế
    và thuộc về tôn giáo hay sự mê tín.
    e) Những truyện tương đối với cái lối gọi là ngụ ngôn của
    Âu-tây, lấy câu kết luận làm câu luân lý để dạy người…
    Mỗi lối này đáng lẽ có thể chép rời ra từng mục một.
    Hoặc còn có thể thu cả những truyện chuyên về một giống
    vật nào cho đi liên tiếp với nhau để làm một cái sử riêng cho
    giống vật ấy.
    Việc đó, và cả việc nghiên-cứu, phê-bình quyển truyện
    hay từng truyện một, xin để sau này, khi chúng tôi soạn được
    trọn bộ và có đủ thời giờ, thì chúng tôi sẽ lưu tâm đến.

    Hiện nay, chúng tôi chỉ mới có cái công góp nhặt, và càng
    nhặt được nhiều bao nhiêu, chúng tôi càng lấy làm hay bấy
    nhiêu. Cho nên không đợi lựa chọn gì, trong sách chúng tôi
    cho tập họp cả các truyện lại và sắp đặt gián đoạn mỗi lối
    một ít, khiến cho người đọc có thể đọc luôn hết truyện này
    đến truyện khác mà không đến nỗi chán nản.
    Chúng tôi dám mong rằng khi xem quyển truyện, độc giả
    hoặc thấy chỗ nào có điều sai lầm hay bỏ sót, chỉ giáo cho
    chúng tôi sửa chữa lại hay bổ cứu vào, thì chúng tôi được lấy
    làm hân hạnh lắm.
    Hà-nội, ngày 22 tháng 5
    Năm Giáp-Tuất (3-7-1934)
    Ô. Nh. – NG.V.NG.

    1) CON LƯƠN VÀ CON CÁ RÔ
    Xưa con lươn và con cá rô là một đôi bạn thân, thường
    năng đi lại với nhau. Một hôm, rô đi kiếm ăn, qua chỗ lươn ở,
    thấy lươn đương nằm chơi trong lờ.
    Rô hỏi rằng : « Bác thư thả nằm chơi đấy ư ? »
    Lươn nói : « Tôi mới dựng được cái nhà nghỉ mát. Mời bác
    hãy ghé vào chơi ».
    Rô sợ không vào. Lươn rằng :
    - Nhà tôi gió mát, trăng trong,
    Thềm cao, sân rộng, sổ song
    Xin bác đừng chê !

    1

    bốn bề.

    Cá rô vẫn rụt rè đứng ở ngoài trông vào. Lươn lại rằng :
    - Nhà tôi cao rộng bốn bề,
    Bác vào nhà nghỉ không hề can chi.
    Xin chớ ngại gì !
    Rô bấy giờ bùi tai, chui vào trong lờ. Một chốc lươn vươn
    mình chui ra, rủ rô cũng mau mau ra để cùng ngao du sông
    bể. Nhưng rô đã mắc lờ, không làm thế nào mà ra được nữa.
    Lươn bảo rằng :
    - Mình em như cá vào lờ,
    Khi vào thì dễ, bây giờ khó ra.
    Xin cố chui qua.
    Nghe thấy lươn hát, rô nằm trong lờ, rô khóc mãi thế nào
    đến hai mắt đỏ ngầu lên. Lươn thấy rô khóc, lươn bật phì

    cười. Rô càng khóc bao nhiêu, thì lươn càng cười bấy nhiêu,
    cười mãi thế nào đến hai mắt híp lại. Bởi thế mà từ đấy mắt
    rô lúc nào cũng đỏ ngầu mà mắt lươn bao giờ cũng ti hí.

    2

    2) CON CÔNG VÀ CON QUẠ
    Xưa con công với con quạ, hai con làm bạn với nhau thân
    lắm, vì hai con cùng xấu cả. Một hôm hai con ngồi nói
    chuyện với nhau.
    Quạ bảo công rằng : « Ta thử xem các giống chim trên
    rừng, trên núi, giống nào cũng đẹp. Này như : con phượng
    hoàng, cái mình nó quý giá biết bao, đến nỗi người ta thường
    khen : « Một cái lông con phượng hoàng bằng cả một làng
    chim chích ». Lại như con hạc, cái hình, cái dạng, cái chân,
    cái tóc nó thanh tao biết thế nào, để cho người ta phải nói :
    « Hạc đứng chầu Vua ; Nghìn năm tóc bạc, tuổi rùa cũng
    xinh ». Còn như anh em ta đây ! than ôi ! thân hình thật
    không còn giống nào xấu bằng nữa ! »
    Công nói : « Phận xấu đành vậy, chớ biết làm sao bây
    giờ ? »
    Quạ nghĩ một lúc rồi bàn rằng : « Xấu mà làm ra đẹp,
    cũng được chớ gì ! Bây giờ hai đứa ta thử tô điểm vẽ vời lẫn
    cho nhau xem có đẹp hay không ? »
    Công bằng lòng. Quạ bèn tô điểm, vẽ vời cho công trước.
    Quả nhiên cái mình, cái đuôi công lóng lánh thành có bao
    nhiêu sắc đẹp, đẹp hơn những giống chim khác nhiều. Đến
    lượt công đang ngồi tô điểm, vẽ vời cho quạ, thì chợt nghe
    tiếng ríu rít biết bao nhiêu chim con ở phía đông bay lại.
    Quạ liền hỏi : « Chúng mày đi đâu mà kéo đàn, kéo lũ
    như thế ? »

    Đàn chim nói : « Chúng tôi nghe đồn ở dưới phương nam
    có nơi nhiều gạo, nhiều gà, lại có cả mấy cái thây ma nữa.
    Chúng tôi rủ nhau đi kiếm ăn đây. Anh làm gì đấy ?… Hay ta
    đi một thể ».
    Quạ nghe nói, trong lòng háo hức muốn đi theo đàn chim
    kia ngay lập tức. Quạ mới nói với công rằng : « Bây giờ mà
    tôi ngồi đợi để anh tô điểm vẽ vời cho đẹp, thì chưa biết đến
    bao giờ mới xong. Thôi, hay sẵn cả đĩa mực đây, anh cứ cầm
    thế mà đổ lên mình tôi để tôi đi theo bọn kia, kẻo lỡ mất một
    dịp may kiếm ăn tốt ».
    Công thấy quạ bảo thế, chiều ý làm theo, cầm cả đĩa mực
    dốc vào mình quạ. Thành bao nhiêu lông cánh quạ toàn một
    màu đen như mực.
    Quạ bay đi kiếm ăn không còn nghĩ gì đến xấu với đẹp
    nữa. Nhưng đến lúc gà, gạo, thây ma phè phỡn, trở về thấy
    con cò trắng muốt bay qua, nó trông nó cười, quạ ngắm lại
    mình đen thủi đen thui gớm chết, thì lấy làm thẹn, vội bay
    lẫn đi nơi khác.
    Thành tự đó hễ thấy cò đâu, thì quạ cứ kêu : « Quạ cấu
    hổ ! Quạ xấu hổ ! ». Nên chi mới có câu hát rằng :
    « Quạ đã biết mình quạ đen,
    Quạ đâu còn dám mon men tới cò ».

    3) CON GIUN KHÔN NGOAN
    3

    Xưa có người bắt một con giun nhỏ làm mồi để câu cá.
    Khi bị chìm xuống nước, con giun thấy một con cá muốn đến
    đớp, mới bảo cá rằng : « Tôi với anh cùng là một loài ở một
    đất, nước với nhau. Nay người nó bắt tôi làm mồi để nhử
    anh. Phỏng anh ăn thịt tôi, tôi chết, mà anh móc vào lưỡi
    câu, thì anh có sống được chăng ? »
    Cá nghe nói không ăn giun, bỏ đi nơi khác. Người kia ngồi
    câu thấy mãi không được con cá nào, nghĩ bụng con giun ấy
    không làm mồi được, bèn lấy ra quăng đi mà kiếm cái mồi
    khác. Thành ra con giun khỏi chết. Bởi truyện này sau ta mới
    có câu hát rằng :
    « Khôn ngoan ai được như giun,
    Cá khôn mắc mẹo, người khôn mắc lừa ! »

    4) VOI NGỰA ĐUA NHAU
    Xưa con ngựa thấy con voi chậm chạp có ý khinh lờn.
    Ngựa đòi thi tài với voi xem ai chạy giỏi. Lúc thi chạy đường
    thẳng, thì voi chạy không kém gì ngựa mấy, nhưng lúc thi
    chạy đường quanh, thì ngựa chạy nhanh hơn voi nhiều. Voi
    thua. Ngựa lên mặt.
    Hôm sau, voi thách ngựa thi chạy đường quanh, nhưng
    phải chạy sang tận hòn núi xa xa đằng trước mặt. Ngựa cho
    là không vào đâu, chắc ăn đứt voi cả mười phần. Nhưng chạy
    được một chốc, thấy có con sông, dòng nước chắn ngang,
    ngựa phải đứng dừng lại chưa biết nghĩ thế nào, thì đã thấy
    voi chạy tới nơi, voi lội xuống sông mà sang được núi bên kia.
    Ngựa đành phải chịu thua, và từ đấy không dám khinh voi
    nữa. Bởi vậy mà người ta mới có câu thường hát rằng :
    « Ngựa lau chau, ngựa đến bến giang,
    Voi đủng đỉnh, voi sang qua đò ».

    4

    5) CON GIÁN VÀ CON NHỆN
    Ngày xưa con gián và con nhện làm bạn chơi với nhau chí
    thân. Một hôm con nhện phàn nàn với con gián rằng :
    « Tôi ghét người chủ nhà này lắm. Tôi chẳng làm hại gì
    nó, mà hễ nó thấy cái mạng tôi giăng chỗ nào, là nó cứ ra
    công phá hoại. Cho nên tôi mới có câu nguyền rủa rằng :
    - Ta mong cho chủ tan hoang,
    Để ta mắc võng nghênh ngang cả nhà.
    « Tôi, thì tôi yêu chủ nhà này lắm. Tôi chẳng làm hại gì
    họ, mà họ cũng chẳng làm hại gì tôi. Dầu mỡ trong nhà tôi
    ăn uống tha hồ phong lưu, mà chẳng ai phiền đến tôi cả…
    Cho nên tôi thường có câu chúc nguyện rằng :
    - Ta mong cho chủ ta giàu,
    Để ta ăn mỡ, ăn dầu no say ».
    Nhện nghe nói lấy làm giận gián. Hôm khác, gián, nhện
    gặp nhau chuyện trò lúc lâu, nhện hỏi gián rằng : « Thế nào,
    độ này dầu mỡ no say thích chứ ! Tôi tưởng cái thân anh
    cũng khổ, chỉ rong chơi rồi nhờ vào chủ nhà mà ăn mà uống,
    chớ có tài nghề gì ? »
    Gián đáp lại : « Thì tôi vẫn biết, tôi không có cái nghề gì
    cả. Còn như anh, anh thật có tài nghề, có khôn ngoan, anh
    cứ nạo ruột anh ra mà xe tơ và giăng cái mạng tinh khéo còn
    ai bằng. Cái mạng này bị phá, anh giăng luôn ngay được cái
    mạng khác ! Chỉ hiềm rằng nhà chủ họ không biết công khó
    nhọc cho anh, họ lại cứ phá anh luôn, làm cho anh lắm lúc

    không còn chỗ mà ở, không có miếng mà ăn. Chẳng trách
    anh cầu cho cửa nhà họ tan hoang là phải. Nhưng khốn tôi
    chẳng thấy họ tan hoang tí nào, tôi chỉ thấy càng ngày, họ lại
    càng giàu sang như câu tôi chúc vậy. Mà cái trò họ lịch sự
    hơn bao nhiêu, thì họ lái phá công nghiệp của anh hơn bấy
    nhiêu ».
    Nhện nghe gián nói, lại càng tức giận gián hơn trước
    nhiều ! Cách đó ít lâu, nhà chủ giàu sang lịch sự, mua được
    một con khướu nuôi để nó hót chơi. Phải tính con khướu thích
    ăn gián, mà chủ cứ sai đầy tớ quơ mạng nhện xong, lại đi bắt
    gián làm đồ ăn cho khướu.
    Khi đó, cả họ nhà gián bị bắt gần hết, chỉ còn con gián
    kia cứ phải lẩn lút chúi ở dưới hang dưới cống không dám nho
    nhoe bò lên trên mặt đất hay mò mẫm ở nơi gậm chạn, đáy
    nồi nữa.
    Một hôm, nhện bắt gặp gián đang tìm đường trốn tránh,
    nhện liền giữ lại hỏi : « Ấy kìa chào bác ! Thế nào, độ này
    bác xem cái thân gián bác đã khốn khổ hơn cái thân nhện
    của tôi đây chửa ? Tôi tuy bị nhà chủ nó phá cái mạng,
    nhưng không bị nó tìm mà giết chết bao giờ, nhất là chết ở
    trong cái miệng của một giống chỉ có nghề tài hót mà thôi.
    Bác chúc nó cho nhiều nữa vào, bác cũng được cái tài nghề
    chúc đấy !… »
    Nghe nói xấu hổ, gián tụt ngay xuống miệng cống, không
    còn nói năng gì được nữa. Thành tự bấy giờ gián, nhện giận
    nhau, tuyệt giao hẳn và coi nhau đã như hằn thù vậy.

    6) CON CÓC LÀ CẬU ÔNG TRỜI
    Xưa, phải một năm Trời làm hạn hán đã năm sáu tháng
    không có một giọt mưa, bao nhiêu đầm, vũng, ao, chuôm
    đều cạn sạch. Không có nước, các loài cây cũng khô héo rũ
    rượi ; không có nước, các loài vật cũng nhao nhao như muốn
    làm loạn vậy.
    Có một con cóc ở trong hang sâu, nghĩ mình ngắn cổ, kêu
    chẳng thấu Trời, nhưng nước không có uống cóc lấy làm tức
    mình, giận thân, bỏ hang định lên tận Trời kêu cho Trời biết
    mới nghe.
    Đi được một đoạn, cóc gặp con ong vẽ, nó hỏi đi đâu. Cóc
    bảo : « Trời làm hết nước uống. Tao đi kêu Trời đây ».
    Ong vẽ nói : « Như loài chúng tôi chỉ sống về hoa, về tổ.
    Bấy lâu Trời nắng, đi hái hoa, thì hoa chẳng nở, muốn về tổ,
    thì nước không có. Có phải anh đi kêu Trời, thì anh cho tôi đi
    theo với ».
    Cóc bằng lòng. Cóc cùng với ong vẽ cùng đi. Đi một đoạn
    nữa, hai con gặp một con gà, nó hỏi : « Hai anh đi đâu ? »
    Cóc, ong đáp : « Trời làm đại hạn. Chúng tao đi kêu Trời
    đây ».
    Gà nói : « Như loài chúng tôi chỉ sống về bông lúa, hạt
    ngô, mà Trời nắng dữ mất mùa mất màng, muốn ăn không
    có, hạt nước khô cổ cũng chẳng tìm ra. Có phải hai anh đi
    kêu Trời, thì hai anh cho tôi đi theo với ».
    Cóc bằng lòng. Cóc cùng với ong, gà cùng đi. Lại đi một

    đoạn, ba con gặp một con cọp, nó hỏi đi đâu. Ba con đáp :
    « Trời làm tiêu khổ. Chúng tao đi kêu Trời đây ».
    Cọp nói : « Được đấy ! Để tao cùng đi với chúng mày ».
    Trời nắng lâu hay mưa dầm, tao chẳng quản ngại gì.
    Nhưng tao thấy chúng mày khao khát khốn khổ về nước, tao
    cũng thương tình, để tao đi với cho thêm bè, thêm cánh. Một
    5

    đàn bốn con , đi mãi bao lâu mới đến cửa nhà Trời.
    Con cóc dặn ba con kia rằng : « Các anh hãy cứ đợi ngoài
    này để một mình tôi vào trước. Bao giờ tôi kêu anh nào vào
    thì anh ấy hãy vào, tôi không kêu thì thôi ».
    Rồi cóc liền nhảy vào. Cóc thấy Trời đang ngồi đánh tổ
    6

    tôm với mấy ông Tiên. Cóc thị võ, giương oai, trợn to hai
    mắt, phùng to hai má, nhảy ngay vào giữa đĩa nọc ngồi chồm
    hổm.
    Trời thấy vậy giận lắm, thét lên rằng : « Mi lên đây làm gì
    mà hỗn láo dường này ? »
    Cóc chẳng nói chẳng rằng, lại càng giương mắt to thêm.
    Trời liền cho gọi lính ra đánh cóc. Cóc không hề sợ, ra lệnh
    7

    cho ong vẽ. Ong vẽ bay vào cắn , bao nhiêu quân lính đau
    đớn chạy tán loạn cả. Trời càng giận, truyền cho Thần Sấm,
    8

    Thần Sét ra đánh cóc. Cóc ra lệnh cho gà . Gà vào gà mổ ;
    Sấm, Sét hoảng hồn chạy ráo. Trời càng giận, truyền cho
    Thần Thiên Cẩu ra đánh cóc. Cóc vẫn cóc sợ gì, ra lệnh cho
    cọp. Cọp vào cọp cắn, Thiển Cẩu chạy chí chết…
    Trời thấy thế thua không làm gì nổi cóc, phải chịu phép
    nó và đấu dịu với nó rằng : « Thưa cậu ! Thế cậu muốn gì,

    cậu bảo cho biết ».
    Cóc nói : « Tôi lên đây chẳng có việc gì. Tôi chỉ muốn hỏi
    sao đã từ lâu Trời không mưa để cho mọi loài dưới hạ giới
    phải chịu khô khan khổ sở vì không có nước ? »
    9

    Trời bèn gọi Vũ súy ra hỏi và trách Vũ súy rằng : « Chú
    giữ việc làm mưa, mà sao chú không chịu chăm chút để cho
    muôn vật dưới hạ giới nó khốn khổ, nó dám lên tận đây làm
    huyên náo như thế này ! »
    Vũ súy quỳ tâu : « Việc là việc chung thiên hạ, không
    riêng chi một phương nào. Thiên hạ bao la rộng rãi, mà
    chúng tôi chỉ có một mình coi không xuể
    sót, xin Trời thẩm xét cho ».

    10

    , tất cũng có chỗ

    Cóc nghe tâu, gắt lên rằng : « Thôi, tôi không biết đâu
    cả. Trời đã chịu phép tôi, thì từ nay hễ khi nào thấy tôi kêu,
    tôi nghiến răng, thì phải mưa ngay
    đây làm loạn chớ chẳng tha ».

    11

    xuống, kẻo tôi lại lên

    Trời bảo : « Vâng, thôi mời cậu cứ về. Từ giờ tôi xin làm
    theo lời cậu không hề dám sai ».

    12

    Bấy giờ cóc mới chịu nhảy ra rủ cả ong vẽ, gà và cọp
    cùng về. Ngay hôm ấy, Trời mưa. Bởi sự tích này mới thành
    có những câu về con cóc rằng :
    « Có cóc khô gì đâu ?
    Cóc sợ gì ai !
    Con cóc là cậu ông Trời,
    Cóc nghiến răng, chuyển động bốn phương Trời ».

    7) CON GÀ, CON LỢN VÀ CON CHÓ
    Xưa có một nhà thật giàu có, ruộng nhiều, trâu bò lắm.
    Phải một hôm đến hơn mười con vừa trâu, vừa bò lạc đi đâu
    mất cả. Sau nhờ bà con láng diềng lùng đi tìm mãi mới lại
    thấy đủ.
    Cảm cái ơn to ấy, hai vợ chồng bàn nhau rằng : « Của ta
    đã mất lại tìm thấy là nhờ lòng tử tế của bà con xóm diềng
    cả. Vậy giờ ta phải báo ơn lại. Nếu bữa nay chưa kịp, thời
    bữa mai ta phải thịt một con gà, một con lợn và một con chó,
    rồi mời những ai đã giúp việc ta đến cơm rượu cho thật no
    say ».
    Hai vợ chồng bàn xong đi ngủ. Đêm nằm thấy ông Tổ
    hiện lên báo mộng rằng : « Tao nghe chúng mày định một
    bữa mai giết hại những ba con vật. Tao sợ chúng mầy làm
    điều thất đức. Vậy chúng mày mà giết chúng nó, thì phải biết
    hóa kiếp cho chúng nó, rồi trong nhà mới yên lành được ».
    Vợ chồng nghe nói, kêu với ông Tổ rằng : « Chúng con
    dương gian mắt thịt, không biết làm cái gì để hóa kiếp cho
    chúng nó. Xin cụ dạy cho… »
    Ông Tổ bảo rằng : « Hễ khi làm thịt gà thì phải hái lá
    chanh, khi làm thịt lợn thì phải thái củ hành, khi làm thịt chó
    thì phải giã củ riềng, mà cho thêm vào, thì hồn các con ấy
    mới hóa được ».
    Hai vợ chồng vâng vâng dạ dạ. Mà khi ông Tổ nói, con
    gà, con lợn, con chó, ba con đều nghe thấy tiếng, biết mình
    không sao tránh khỏi chết, cũng đành vậy. Nhưng ba con chỉ

    sợ chủ nhà quên điều ông Tổ dặn các thứ phải gia thêm vào
    thịt cho mau hóa kiếp, nên lúc mới sáng tinh sương, bà con
    ùa nhau kêu ầm lên :
    Gà thì : « Tục tác lá chanh ».
    Lợn thì ủn ỉn : « Mua hành cho tôi ».
    Chó thì khóc đứng, khóc ngồi : « Mẹ ơi, mẹ hỡi, mua tôi
    đồng riềng ».
    Vì truyện này mà tự đó ta ăn gà, phải có lá chanh, ăn lợn
    phải có hành, ăn chó phải có riềng thì ăn mới ngon mà cũng
    tức là để chóng hóa kiếp cho ba con vật rất có ích cho ta vậy.

    8) CON CHÈO BẺO
    Xưa có một người, về mùa tháng mười, lúa đã gần chín,
    đêm nào cũng ra đồng nằm để giữ lúa. Gặp phải một đêm, có
    hai tên kẻ trộm rủ nhau đến cắt trộm lúa. Chúng thấy có
    người nằm giữ đấy rồi, không biết làm thế nào, mới bảo nhau
    giết chết đi.
    « Than ôi trời cao đất dầy !
    Để cho người ấy bị tay tham tàn ! »
    Ai ngờ, oan hồn thì hồn hiện, hồn người chết ấy lên Thiên
    Đình kêu với Ngọc Hoàng.
    Ngọc Hoàng liền sai quỷ sứ xuống bắt hai tên kẻ trộm
    lên, rồi phán rằng : « Hai đứa chúng mày siêng ăn, biếng làm
    chỉ lo trộm cướp của người, rồi lại còn giết người. Như tội ấy
    thật là to lắm ! Hai tên bây phải chết, một tên thì ta bắt làm
    châu chấu, còn một tên thì ta bắt làm cào cào ».
    Xong, Ngọc Hoàng lại phán rằng : « Còn tên giữ lúa chết
    oan kia, thì ta hóa kiếp cho làm con chèo bẻo ».
    Tên kia tâu rằng : « Bây giờ con hóa làm chèo bẻo, thì
    con phải làm những việc gì ? »
    Ngọc Hoàng phán : « Ta cho mày hóa làm chèo bẻo, một
    là để cho mày lại theo được cái nghiệp giữ lúa như xưa, hai là
    để cho mày có dịp báo thù được hai tên kẻ trộm. Bao giờ lúa
    chín, có châu chấu, cào cào đến ăn hại, thì ta cho mày cứ tha
    hồ tự do bắt nó mà ăn thịt ».
    Bởi sự tích này mà hằng năm cứ vào độ tháng mười gần

    lúa chín, thì có chim chèo bẻo bay lượn khắp mọi cánh đồng
    mà bắt châu chấu với cào cào.

    13

    9) CON TÔM VÀNG
    Đời xưa có người giàu có, nuôi một con mèo cực đẹp. Ông
    rất cưng yêu con mèo, mà con mèo cũng hết lòng với ông.
    Một hôm, ông cho gọi thợ bạc đến trổ một con tôm bằng
    vàng để làm đồ chơi. Con tôm vàng trổ khéo lắm không khác
    gì con tôm thiệt. Nên ông lấy làm quí mến, ngồi đứng đâu,
    thường vẫn đem theo. Phải một khi ông đi chơi vắng, bỏ
    quên con tôm vàng ở nhà, lúc trở về tìm, thì con tôm vàng
    mất đâu, tìm sao cũng không thấy.
    Ông bèn gọi con mèo đến mà bảo rằng : « Mày ở nhà, có
    biết con tôm vàng đâu, thì tìm ra cho được. Nếu không tìm
    thấy, thì tao cứ mày tao trị tội ».
    Con mèo thưa rằng : « Tôm vàng của ông ở đâu thì tôi
    không biết, nhưng tôi biết trong nhà có con chuột, tính nó
    hay gậm, hay tha, để tôi thử xin tra nó xem sao ».
    Rồi con mèo đi tìm con chuột gầm gừ hỏi rằng : « Ông
    chủ tao đánh mất con tôm vàng. Mày có tha đi đâu, thì phải
    đưa trả ngay đây, không tao cắn chết ».
    Con chuột run sợ nói rằng : « Con tôm vàng, thật tôi
    không lấy. Nhưng tôi biết, hôm qua lúc ông chủ đi vắng,
    người thợ bạc lẻn vào nhà lấy trộm rồi đem đi. Hay bây giờ
    anh với tôi, ta phải đi lấy tôm vàng về cho được ». Mèo nghe
    nói, vui lòng nhận đi ngay…
    Nhà người thợ bạc ở cách một con sông, mèo chuột phải
    lội qua mới sang đến nơi. Mèo thì ngồi đợi trước cửa, còn
    chuột chạy vào lục lọi khắp mọi nơi. Chuột khoét mau thủng

    một cái hòm, chui vào tìm bới, thì quả nhiên thấy con tôm
    vàng trong ấy. Chuột vội cắn đem ra cho mèo. Mèo lấy làm
    mừng lắm, ngậm con tôm vàng vào mồm. Hai con lại rủ nhau
    lội qua sông để về nhà. Nhưng đang lúc lội, mèo luống cuống
    làm sao, để cho tôm vàng sẩy rơi xuống nước.
    Mèo lấy làm lo sợ, nói với chuột rằng : « Con tôm vàng ở
    dưới đáy sông rồi ! Hai đứa chúng ta cùng không biết lặn cả.
    Liệu làm thế nào bây giờ đây ? »
    Chuột trách mèo : « Công tôi đã tìm thấy được tôm vàng,
    anh lại đem đánh rơi đi. Việc ấy thật là lỗi ở anh, không can
    gì đến tôi nữa ».
    Giữa lúc hai con đang ngồi than thở bàn bạc với nhau,
    mèo chợt thấy một con cá tự dưới sông nhảy vào bờ. Mèo
    nhanh chân chạy lại, bắt con cá, ngoeo ngoeo nạt nộ rằng :
    « Tao vừa đánh rơi con tôm vàng xuống sông. Có phải mày
    đã ăn mất rồi, thì mày nhả ra trả tao đây. Không thì tao cắn,
    tao nuốt ngay bây giờ ».
    Cá nghe nói, sợ hãi thưa rằng : « Con tôm vàng, lúc nãy
    tôi quả có bắt được ngỡ là tôm thật, tôi đã toan ăn, nhưng
    đến lúc gậm, thấy nó rắn quá, tôi lại nhả ra bỏ. Hiện bây giờ
    nó còn ở dưới đáy sông ».
    Con mèo vội bảo : « Thế mày phải mau lặn xuống sông
    lấy đem lên đây cho tao, thì tao mới tha mày ».
    Cá uốn mình lặn xuống sông lấy ngay được tôm vàng
    đem lên trả mèo.
    Mèo thấy tôm vàng, chẳng thèm cảm ơn gì cả, đội ngay

    lên đầu mà đi, vừa đi vừa bảo chuột rằng : « Tao ngậm tôm
    vàng vào mồm, tao lại sợ nó sẩy ra như lúc nãy thì chết. Bây
    giờ tao đội nó trên đầu vững vàng thế này, thì thật không còn
    ngại gì nữa ».
    Mèo nói thế, đã tưởng là khôn lắm. Nào ngờ chưa đi được
    mấy bước, có con quạ lượn trên không, trông thấy tôm vàng
    nhấp nhánh ở dưới tưởng cái gì ăn được, sà ngay xuống đớp,
    rồi bay lên đậu trên cành đa cao chót vót.
    Mèo thấy tôm vàng lại mất, hoảng hốt vừa giận vừa lo,
    bàn với chuột rằng : « Trước tôm vàng rơi xuống nước, ta
    còn sai cá lặn xuống, nó lấy lên được. Bây giờ tôm vàng ở
    trên ngọn cây, ta biết mượn ai bay lên đó để đem về được
    cho ta ».
    Chuột tán nhảm : « Ừ, quạ nó là loài cầm thì nó bay,
    mình là loại thú thì mình bay sao được ! »
    14

    Mèo ngồi nghĩ thoáng một lúc, nói r
     
    Gửi ý kiến

    Một thư viện tốt là trái tim của nhà trường – nơi nuôi dưỡng trí tuệ và tâm hồn học sinh


    “Sách mang trong mình sứ mệnh đưa độc giả đi du lịch khắp muôn nơi mà không cần di chuyển một bước.” – Jumpa Lahiri

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TH NGUYỄN THỊ MINH KHAI -TP HỒ CHÍ MINH !